Việc Làm Kế Toán - Tuyển Dụng Kế Toán

 

dịch vụ cung cấp nhân sư kế toán

Thuế GTGT là gì

Thuế GTGT là gì và đặc điểm cơ bản của thuế giá trị gia tăng là gì

Bất kỳ một kế toán viên nào hay chủ doanh nghiệp cũng nên biết và hiểu bản chất về thuế GTGT là gì và những đặc trực cơ bản của thuế giá trị gia tăng để vận dụng vào thực tế trong doanh nghiệp

Thuế GTGT là gì 

Thuế GTGT (Được gọi  tắt  là VAT  -  Value  Added Tax hoặc TVA  -  Taxe sur la Valeur Ajoutée) là  sắc thuế  thuộc  loại thuế  gián thu  đánh vào  giá trị  giá tăng của hàng hoá, dịch vụ phát sinh ở  từng khâu trong quá trình luân chuyển từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

thuế gtgt là gì

Tổng số  thuế  GTGT  thu  được  qua  tất cả  các giai đoạn luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ  bằng với số  thuế  tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Thuế GTGT do người tiêu dùng cuối cùng chịu, cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà cung cấp hàng hoá, dịch vụ  là người nộp thuế  vào NSNN  thay  cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế  vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hoá, dịch vụ.

Ở  Việt  Nam, thuế  GTGT  được  ban  hành  thành  Luật và  được  Quốc  hội Khoá IX thông qua tại kỳ  họp thứ  11 (ngày 10/ /1997) và có hiệu lực thi  hành kể  từ  01/01/1999, thay thế  cho Luật Thuế  doanh thu. Trong quá trình thực thi, Luật  thuế  GTGT  đã  được  sửa  đổi, bổ  sung nhiều  lần nhằm  tháo  gỡ  kịp  thời những vướng mắc phát sinh, phù hợp với thực tiễn nước ta trong từng thời kỳ.

Đặc điểm của thuế GTGT là gì

Thuế GTGT có các đặc điểm nổi bật sau đây:

Một là, thuế GTGT là thuế gián thu. Thuế GTGT được tính trên giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ  và được thu vào khâu tiêu thụ  hàng hóa, dịch vụ. Người nộp thuế  GTGT là người bán hàng hóa, cung  ứng dịch vụ; người chịu thuế GTGT là người tiêu dùng cuối cùng.

Hai  là,  thuế  GTGT  là  thuế  tiêu  dùng  nhiều  giai  đoạn  không  trùng  lắp. Thuế  GTGT đánh vào tất cả  các giai đoạn luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ nhưng chỉ tính trên GTGT của mỗi giai đoạn luân chuyển của hàng hóa, dịch vụ, bởi vậy, thuế  GTGT không tính trùng phần GTGT đã tính thuế  ở  giai đoạn luân chuyển trước khi tính thuế GTGT của giai đoạn sau.

Ba là, thuế  GTGT là sắc thuế  có tính lũy thoái so với thu nhập. Do thuế GTGT tính trên giá bán của hàng hóa, dịch vụ  mà người chịu thuế  lại là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ nên khi thu nhập của người tiêu dùng tăng lên thì tỷ lệ  thuế  GTGT phải trả  trong giá mua so với thu nhập của họ  giảm đi. Điều này có nghĩa là, xét dưới góc độ tính công bằng, thuế  GTGT là sắc thuế  không công bằng, tỷ lệ thuế GTGT so với thu nhập của người nghèo cao hơn người giầu.

Đặc  điểm  này  hiện  vẫn  còn  nhiều  tranh  cãi,  có  ý  kiến  cho  rằng  thuế GTGT đánh theo tỷ lệ % và về nguyên tắc thì thu nhập càng cao thì chi tiêu càng lớn, khái niệm chi tiêu ở đây bao gồm cả chi tiêu dùng và chi đầu tư, và khi chi tiêu càng lớn thì càng phải trả thuế GTGT nhiều hơn.

Bốn là, thuế GTGT thường được đánh theo nguyên tắc điểm đến. Theo đó, đối tượng đánh  thuế  GTGT  căn  cứ  vào  thân  phận  cư trú  của người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ mà không dựa trên nguồn gốc tạo ra hàng hóa, dịch vụ. Quyền đánh thuế  GTGT thuộc về  quốc gia nơi có hàng hóa, dịch vụ  tiêu thụ, bất kể hàng hóa, dịch vụ đó được sản xuất ra ở đâu.

Năm là, thuế  GTGT  có phạm vi điều tiết rộng. Thuế  GTGT là loại thuế tiêu dùng thông thường, đánh vào hầu hết các hàng hóa, dịch vụ  phục vụ  đời sống con người. Số  lượng các hàng hóa, dịch vụ  thuộc diện miễn thuế  GTGT theo thông lệ quốc tế thường rất ít.

Tác dụng của thuế GTGT là gì

Thuế  GTGT có diện điều chỉnh rộng (đối với mọi hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất kinh doanh và tiêu dùng tại  Việt Nam) và khắc phục  được những nhược  điểm của thuế  doanh thu trong cơ chế  thị  trường (không thu thuế  trùng lắp vào các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh), nên có tác dụng:

-  Đảm bảo nguồn thu lớn,  ổn  định và kịp thời cho NSNN, góp phần tăng cường tài chính quốc gia,  đảm bảo nguồn lực  để  phát triển kinh tế  -  xã hội, xoá đói, giảm nghèo và củng cố an ninh, quốc phòng.

- Đối với đầu tư, xuất khẩu và tăng trưởng: Với cơ chế đặc thù về khấu trừ, hoàn lại thuế GTGT đầu vào đã trả khi mua các sản phẩm dùng cho SXKD hàng hoá, dịch vụ  chịu thuế; hàng hoá, dịch vụ  xuất khẩu  được áp thuế  0% (không phải nộp thuế  khi xuất khẩu mà còn  được hoàn lại toàn bộ  số  thuế  đầu vào  đã trả); tài sản đầu tư được hoàn lại thuế GTGT theo định kỳ khi dự án chưa có sản phẩm đầu ra (hoặc  được khấu trừ  ngay đối với trường hợp vừa có dự  án đầu tư, vừa có hoạt  động kinh doanh phát sinh thuế  đầu ra. Vì vậy, thuế  GTGT có tác dụng tích cực trong việc khuyến khích xuất khẩu, khuyến khích đầu tư và từ đó, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển.

-  Khuyến  khích  và  thúc  đẩy  doanh  nghiệp  tăng  cường  hạch  toán  kinh doanh, thực hiện tốt chế  độ  kế  toán, lưu giữ  hoá  đơn, chứng từ; góp phần vào việc  chống  trốn,  lậu  thuế;  nâng  cao  tinh  thần  tự  giác  của  các  đối  tượng  kinh doanh.

-  Góp phần hoàn thiện hệ  thống chính sách thuế, làm cho hệ  thống chính sách thuế  từng bước phù hợp với thông lệ  quốc tế, tạo thuận lợi cho quá trình hội nhập kinh tế của nước ta với khu vực và thế giới.

Bài viết tiếpĐối tượng chịu thuế và đối tượng không chịu thuế GTGT


Xem thêm các thông tin việc làm kế toán mới nhất tại: https://www.facebook.com/groups/tuyendungketoandn


Các bài viết mới

Các tin cũ hơn