Việc Làm Kế Toán - Tuyển Dụng Kế Toán

 

dịch vụ cung cấp nhân sư kế toán

Thuế TNCN là gì

Thuế TNCN là gì và đặc điểm cơ bản về thuế thu nhập cá nhân, quá trình hình thành của thuế thu nhập cá nhân 

Thuế TNCN là gì

Thuế  thu nhập cá nhân (TNCN)  là  sắc thuế  trực thu  đánh  vào thu nhập của cá nhân.  Các cá nhân chịu thuế TNCN theo thông lệ  quốc tế  là cá nhân làm công ăn lương, cá nhân  kinh doanh, hộ  gia đình kinh doanh, chủ  doanh nghiệp tư nhân, cá nhân góp vốn thành lập công ty hợp danh. Tuy nhiên,  ở  một số quốc gia doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh không chịu thuế  TNCN mà chịu thuế TNDN.

thuế tncn là gì

Việc thực thi loại thuế này chính thể hiện nghĩa vụ của cá nhân đối với đất nước một cách trực tiếp nhất. Người dân  được hưởng các thành quả  của xã hội như cơ sở hạ tầng, giáo dục cơ bản, y tế cộng đồng, môi trường luật pháp thể chế, quốc phòng an ninh... Vì vậy, thuế  TNCN có ý nghĩa lớn trong  việc hình thành nguồn lực tài chính  để  nhà nước thực hiện chức năng của mình, cung cấp các dịch vụ công cho người dân ngày càng tốt hơn.

Thuế TNCN là loại thuế phổ biến trên Thế giới, có lịch sử hàng trăm năm nhưng việc áp dụng nó tuỳ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, cho đến nay trên thế giới đã có 180 nước áp dụng loại thuế này.

Xem thêm: Cách tính thuế thu nhập cá nhân mới nhất

Đặc điểm của thuế TNCN là gì

Thuế  TNCN  có  diện  điều  chỉnh  rộng  đối  với  tất  cả  các  cá  nhân  có  thu nhập từ  tiền lương, tiền công; thu nhập từ  kinh doanh; từ  đầu tư  gián tiếp như mua, bán cổ  phần, trái phiếu, cổ  phiếu...  Thuế  TNCN  điều chỉnh không chỉ  cá nhân trong nước mà cả  cá nhân nước ngoài nếu có thu nhập. Trong  điều kiện toàn cầu hoá, sự  dịch chuyển lao  động giữa các nước diễn ra nhanh chóng, sự phát  triển  của  công  nghệ  thông  tin  cho  phép  các  cá  nhân  cư  trú  tại  một  nơi nhưng có thể vươn ra làm việc và kiếm được thu nhập từ những nơi cách xa vạn dặm. Để  bảo đảm quyền đánh thuế  của mình, các quốc gia thướng lựa chọn tiêu chí “cư trú” và tiêu chí “nguồn” để đánh thuế thu nhập nói chung, đánh thuế thu nhập cá nhân nói riêng. Đồng thời, để thực hiện chính sách khuyến khích đầu tư, thực hiện các cam kết quốc tế về tự do hoá thương mại và bảo đảm đầu tư..., các nước thường có các thoả  thuận với các nước  đối tác trong việc tránh  đánh thuế trùng và ngăn ngừa các hành vi trốn lậu thuế  phát sinh do các nước  đều khẳng định quyền đánh thuế dựa vào 2 tiêu chí nêu trên trong khi quy  định về thuế  thu nhập cá nhân có sự khác nhau giữa các nước.Cho  đến  đầu năm 2007,  Việt Nam  chưa có một  đạo luật về  thuế  TNCN theo  đúng  nghĩa  của  nó  cũng  như  theo  thông  lệ  quốc  tế.  Tuy  nhiên,  trong  hệ thống chính sách thuế  ở  giai đoạn này,  Việt Nam  đã  điều tiết vào thu nhập của cá nhân thông qua các sắc thuế khác, cụ thể là:

(i) Thuế  TNDN áp dụng với cá nhân kinh doanh (28% trên thu nhập chịu thuế, miễn trừ  cho các hộ  kinh doanh có thu nhập thấp (bình quân tháng thấp hơn mức lương tối thiểu áp dụng đối với công chức Nhà nước);

(ii) Thuế chuyển quyền sử dụng đất điều tiết vào thu nhập của cá nhân, hộ gia đình từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất (tính trên giá đất do UBND cấp tỉnh quy  định: 2%  đối với  đất nông nghiệp, 4%  đối với  đất  ở,  đất xây dựng và đất khác);

(iii) Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (TNC) điều tiết vào thu nhập thường xuyên, thu nhập không thường xuyên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2007, Quốc hội Khóa XII  đã thông qua Luật thuế TNCN số  04/2007/QH12 với hiệu lực thi hành từ  ngày 01/01/2009,  đồng thời bãi bỏ các Luật, Pháp lệnh thuế điều tiết vào thu nhập của cá nhân như nêu trên.

Sau 3 năm thực hiện, trước tình hình  nền kinh tế  gặp nhiều khó khăn, thu nhập của người nộp thuế  bị  ảnh hưởng, Quốc hội đã có biện pháp miễn, giảm thuế  trong  các  năm  2009  –  2012  và  ban  hành  Luật  số  26/2012/QH13  ngày 22/11/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế TNCN số 04/2007/QH12. Cùng  với  việc  sửa  đổi  Luật  thuế  TNCN,  Luật  Quản  lý  thuế  số 68/2006/QH11 cũng được sửa đổi một số nội dung (Luật số 21/2012/QH13 ngày 20/11/2012); trong đó có những quy định cụ  thể  về  cải cách thủ  tục hành chính, tạo thuận lợi cho người nộp thuế.  Ngày  27/6/2013, Chính phủ  ban hành  Nghị định số 65/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân  và Luật sửa đổi, bổ  sung một số  điều của Luật Thuế  thu nhập cá nhân có hiệu  lực  thi  hành  kể  từ  ngày  01/07/2013.  Ngày  1 /8/2013,   Bộ  Tài  chính  banhành  Thông tư số  111/2013/TT- TC hướng dẫn các nội dung chính sách thực hiện kể  từ ngày Luật số  26/2013/QH13 có hiệu lực pháp luật. Các nội dung mới về  quản  lý  thuế  TNCN  được  thực  hiện  theo  quy  định  tại  Thông  tư  số156/2013/TT-BTC thực hiện kể  từ  ngày 01/01/2014.  Trong năm 2014, để  tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế, Bộ Tài chính đã ban hành một số thông tư sửa đổi, bổ  sung các thông tư về  thuế  trong đó có thuế  TNCN, đó là:

Thông tư số  119/2014/TT- TC ngày 2 /8/2014 và Thông tư số  151/2014/TT- TC ngày 10/10/2014.

Để  đơn giản hóa phương pháp tính thuế  TNCN và khắc phục những bất cập  trong  chính  sách  thuế,  ngày  26/11/2014,  Quốc  hội  đã  thông  qua  Luật  số 71/2014/QH13 sửa đổi, bổ  sung một số  điều của các luật về  thuế  có hiệu lực thi hành từ 1/1/201 , trong đó có sửa đổi một số quy định về thuế thu nhập cá nhân.

Trên  cơ  sở  đó,  ngày  12/2/201 ,  Chính  phủ  đã  ban  hành  Nghị  định  số12/201 /NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật số  71/2014/QH13; Bộ  Tài chính ban hành Thông tư số  92/2015/TT- TC hướng dẫn  thực hiện thuế  giá trị  gia tăng và thuế  thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số  nội dung sửa đổi, bổ  sung về  thuế  thu nhập cá nhân  theo  Luật số 71/2014/QH13 và Nghị định số 12/201 /NĐ-CP.

Bài viết trướcĐối tượng nào phải nộp thuế TNCN


Xem thêm các thông tin việc làm kế toán mới nhất tại: https://www.facebook.com/groups/tuyendungketoandn


Các bài viết mới

Các tin cũ hơn